Thu hút, khuyến khích đầu tư các dự án năng lượng điện

THU HÚT, KHUYẾN KHÍCH ĐẦU TƯ CÁC DỰ ÁN NĂNG LƯỢNG ĐIỆN

Nhu cầu cấp thiết thu hút đầu tư nguồn và lưới điện 

Theo ước tính, trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, mỗi năm, Việt Nam cần đầu tư ít nhất khoảng tám tỷ đến 10 tỷ USD để phát triển nguồn và lưới điện, phục vụ nhu cầu phát triển đất nước. Trong bối cảnh nguồn lực đầu tư nhà nước có hạn, nhất là các tập đoàn, tổng công ty nhà nước còn gặp nhiều khó khăn, việc tháo gỡ mọi khó khăn, vướng mắc để thu hút nguồn vốn đầu tư từ các doanh nghiệp ngoài ngành điện là hết sức quan trọng, nhất là các doanh nghiệp tư nhân (DNTN) và nước ngoài.

Dự án điện mặt trời tại Bình Phước được đầu tư bởi công ty cổ phần đầu tư Emime. 

Sôi động xã hội hóa đầu tư nhà máy điện mặt trời

Thời gian qua, có nhiều dự án nhà máy điện tại Việt Nam đã được triển khai thực hiện theo hình thức BOT. Đây là các dự án có quy mô lớn về công suất và tổng vốn đầu tư, do các nhà đầu tư (NĐT) nước ngoài đầu tư tại Việt Nam. Hoạt động đầu tư nước ngoài vào các dự án nguồn điện có ý nghĩa quan trọng, giúp giảm áp lực vốn cho Chính phủ, góp phần chuyển giao công nghệ, sáng kiến kỹ thuật, kỹ năng quản lý dự án... Cục trưởng Điện lực và Năng lượng tái tạo (Bộ Công thương) Hoàng Tiến Dũng cho biết, nhờ các chính sách khuyến khích phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) của Chính phủ, thời gian qua, các nguồn điện từ NLTT đã phát triển mạnh mẽ. Tính đến hết tháng 10-2020, có hơn 100 dự án điện mặt trời (ĐMT) và 11 dự án điện gió với tổng công suất gần 6.500 MW đi vào vận hành thương mại. Đồng thời, hiện có 359 nhà máy thủy điện nhỏ với công suất hơn 3.700 MW đang vận hành và 155 dự án thủy điện nhỏ khác (công suất hơn 2.100 MW) đang xây dựng; ngoài ra còn có một số nhà máy điện sinh khối (khoảng 325 MW) và nhà máy điện rác thải (10 MW) cũng đã hòa lưới điện. Việc phát triển các dự án điện NLTT cũng góp phần phát triển ngành công nghiệp sản xuất máy móc, thiết bị ĐMT, các dịch vụ kỹ thuật và quản lý dự án; khai thác hiệu quả các vùng đất khô cằn, hiệu quả sản xuất nông nghiệp thấp; thu hút lượng vốn xã hội lớn đầu tư vào hạ tầng ngành điện.

Bên cạnh đó, nhiều NĐT tư nhân trong nước đã tham gia đầu tư các dự án nhiệt điện than như Nhiệt điện An Khánh (100 MW) hay Thăng Long (600 MW) đã đi vào vận hành; các dự án An Khánh - Bắc Giang (600 MW), Công Thanh (600 MW) đang trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư. Các NĐT trong nước còn tham gia đầu tư lưới điện để đấu nối các dự án nguồn, điển hình là Công ty CP Đầu tư Xây dựng Trung Nam đầu tư dự án ĐMT (450 MW) tại xã Phước Minh, huyện Thuận Nam (Ninh Thuận) kết hợp đầu tư hạ tầng truyền tải bao gồm trạm biến áp 500 kV và đường dây 500 kV, 220 kV đấu nối và bàn giao lại 0 đồng cho ngành điện quản lý. Các chính sách thu hút đầu tư vào lĩnh vực điện lực đã cho thấy những thành công bước đầu. 

Các địa phương cũng tích cực vào cuộc, theo sát xu thế phát triển NLTT. UBND tỉnh Bình Thuận cho biết, đến nay, trên địa bàn tỉnh có 37 nhà máy điện đang hoạt động, bao gồm các loại nhiệt điện, thủy điện, điện gió, ĐMT và đi-ê-den với tổng công suất hơn 6.116 MW; cung cấp sản lượng điện hơn 30,78 tỷ kW giờ/năm. Tỉnh Ninh Thuận đã có 41 dự án đi vào vận hành với tổng công suất 2.633 MW và 23 dự án đang triển khai với tổng công suất 2.089 MW; ước tính đến cuối năm 2020, sản lượng phát điện tối đa đạt khoảng 3,5 tỷ kW giờ. Còn theo Giám đốc Sở Công thương tỉnh Hà Tĩnh Hoàng Văn Quảng, đối với dự án Trung tâm Điện lực Vũng Áng 3, thay vì sử dụng nhiên liệu than như ban đầu, hiện nay đã có một số NĐT có văn bản chính thức đề xuất khảo sát, nghiên cứu đầu tư chuyển đổi sang sử dụng khí hóa lỏng (LNG) để phát điện và nâng công suất lên 4.800 MW như: Liên danh Công ty CP Tập đoàn T&T - Tổng công ty Điện lực dầu khí Việt Nam; Tập đoàn Vingroup; Liên danh Công ty TNHH Siemens Gas & Power (Đức) - Công ty Samsung C&T (Hàn Quốc)… 

Nhu cầu lớn, nguồn lực hạn chế

Báo cáo “Việt Nam huy động tối đa nguồn tài chính để phát triển ngành năng lượng” do Ngân hàng Thế giới (WB) thực hiện đã chỉ ra, trong ngành năng lượng, nhu cầu tăng với tốc độ tăng trưởng kép hằng năm là 13% kể từ năm 2000 và dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng ở mức 8%/năm cho đến năm 2030. Để đáp ứng mục tiêu này, mỗi năm Việt Nam cần phải lắp đặt 5.000 MW công suất mới từ nay đến năm 2030. Điều này đặt ra rất nhiều thách thức về kỹ thuật, quản lý và tài chính. Theo ông Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên Hội đồng khoa học của Hiệp hội Năng lượng Việt Nam, trong giai đoạn từ nay đến năm 2030, nếu ước tính cả vốn đầu tư nguồn và lưới điện, theo dự thảo Quy hoạch điện VIII, hằng năm cần khoảng hơn 13 tỷ USD, giai đoạn sau năm 2030 cũng khoảng 12 tỷ USD/năm. Với quy mô nền kinh tế còn khiêm tốn thì đây là thách thức rất lớn. 

Theo Bộ Công thương, nhu cầu điện thương phẩm sẽ duy trì mức tăng khoảng 8% trong giai đoạn 2021 - 2030. Năm 2025 dự kiến đạt khoảng 337,5 tỷ kW giờ và năm 2030 khoảng 478,1 tỷ kW giờ. Công suất nguồn điện năm 2030 dự kiến khoảng 138 nghìn MW, trong đó nhiệt điện than chiếm 27%, nhiệt điện dầu và khí 19%, thủy điện 18%, điện gió và ĐMT 28%, nhập khẩu 5%, còn lại là các nguồn khác. Khó khăn lớn nhất đối với phát triển hạ tầng ngành điện là vấn đề thu xếp vốn cho dự án. Với đặc thù ngành năng lượng cần vốn đầu tư cao, chậm thu hồi, trong khi các DN trong nước chưa đạt được mức uy tín tài chính để có thể tự đi vay, do đó việc thu xếp nguồn vốn vay sẽ khó khăn hơn do các tổ chức tài chính quốc tế ngày càng khắt khe, thậm chí không tiếp tục cấp vốn cho các dự án nhiệt điện than. Đồng thời, hầu hết các DNTN còn ít kinh nghiệm đầu tư, xây dựng và vận hành các dự án điện; trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý và kỹ thuật còn hạn chế... dẫn đến tình trạng nhiều dự án nguồn điện chậm tiến độ, ảnh hưởng nghiêm trọng trong việc bảo đảm cung ứng điện thời gian tới. Tổng công suất các nguồn điện truyền thống có thể đưa vào vận hành trong giai đoạn 2016 - 2020 chỉ đạt gần 60% so quy hoạch đề ra. Bộ trưởng Công thương Trần Tuấn Anh nhận định, việc huy động vốn cho các dự án điện gặp nhiều khó khăn. Trung bình mỗi năm nhu cầu vốn đầu tư cho nguồn và lưới điện từ tám đến 10 tỷ USD. Các tập đoàn nhà nước đều gặp khó khăn về tài chính, trong khi đó, các dự án nguồn điện do tư nhân và NĐT nước ngoài cũng trong hoàn cảnh tương tự do yêu cầu cao từ các bên cho vay (bảo lãnh Chính phủ chuyển đổi ngoại tệ…). Mặt khác, thách thức không nhỏ hiện nay là nguồn điện từ NLTT phát triển nhanh nhưng hệ thống truyền tải điện giải tỏa công suất phát triển chưa đồng bộ. Cùng với đó, Việt Nam đã phải nhập khẩu than và tới đây sẽ phải nhập khẩu khí LNG cho sản xuất điện (khoảng 60 triệu tấn than và 12 triệu tấn LNG vào năm 2030). Tất cả những yếu tố này đã cản trở quá trình tăng trưởng nguồn điện của nước ta.

Bên cạnh đó, một vấn đề cần quan tâm là công suất dự phòng nguồn điện. Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Võ Quang Lâm chia sẻ: EVN rất hoan nghênh các NĐT tham gia phát triển hạ tầng năng lượng, giảm áp lực cho ngành điện. Tuy nhiên, đối với các dự án phát triển NLTT, các cơ quan chức năng cần lưu ý vấn đề về công suất dự phòng nhất định của các nguồn điện truyền thống bởi các nguồn điện gió, ĐMT chịu ảnh hưởng thất thường của thời tiết khiến công suất phát không bảo đảm, ảnh hưởng sự ổn định của hệ thống điện quốc gia. 

Hệ thống pháp lý chưa hoàn thiện

Một trong những trở ngại nữa trong thu hút đầu tư vào phát triển điện là hệ thống pháp lý chưa hoàn chỉnh, nhất là đối với đầu tư lĩnh vực NLTT. Theo GS, TSKH Nguyễn Mại, cản trở nhất là bất cập về thể chế. Điểm thuận lợi là chúng ta tiếp cận điện gió, ĐMT ở thời điểm công nghệ thế giới đã thay đổi, có thể giảm giá thành, từ đó giảm giá điện, nhưng cách tiếp cận NLTT lại không đồng bộ, không dài hạn và thiếu tính hệ thống. Cụ thể, đầu tư một dự án ĐMT phải có diện tích hàng trăm héc-ta, liên quan nhiều luật và cả “rừng” nghị định với các điều khoản chồng chéo; cách hiểu luật của mỗi cơ quan quản lý một khác khiến NĐT rất nản lòng. Chính sách ưu đãi đã có nhưng thời gian áp dụng quá ngắn, trong khi quy trình cấp phép đầu tư, phát triển, xây dựng, vận hành dự án khá phức tạp, tốn nhiều thời gian và chi phí của NĐT, nhất là thủ tục cấp đất, giải phóng mặt bằng. Vấn đề quy hoạch cũng cần phải được bàn bạc để rút kinh nghiệm và cần lưu ý vấn đề an ninh quốc gia trong quá trình triển khai các dự án...

Đáng lưu ý, nguồn vốn tài trợ các dự án NLTT vẫn chủ yếu phụ thuộc vào nguồn vốn tín dụng, chưa có sự tài trợ của các nguồn vốn khác như trái phiếu doanh nghiệp, quỹ đầu tư… TS Cấn Văn Lực, Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đánh giá, ngay cả các ngân hàng thương mại (NHTM) cũng chưa có định hướng cụ thể cho tài trợ phát triển NLTT mà chủ yếu thực hiện thông qua định hướng tín dụng xanh với tỷ trọng dư nợ còn khá thấp. Hơn nữa, các NHTM phải thực hiện quy định giảm dần tỷ lệ sử dụng vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung, dài hạn, cho nên nguồn tài trợ từ các NHTM cho dự án điện không thể dồi dào vì ngân hàng chủ yếu huy động vốn ngắn hạn từ dân cư trong khi các dự án năng lượng phải đầu tư trong thời gian dài. Mặt khác còn gặp khó khăn trong tiếp cận thông tin, đánh giá rủi ro dự án NLTT do lĩnh vực này còn mới, các quy định về hỗ trợ NLTT chưa thật sự rõ ràng và nhất quán. Một số chủ đầu tư thiếu kinh nghiệm và có tình trạng đầu tư theo tâm lý, phong trào và còn hiện tượng lách luật. 

Ngoài ra, sự thiếu đồng bộ và phân cấp ưu tiên giữa Quy hoạch điện với các quy hoạch địa phương, các quy hoạch ngành khác như phát triển rừng, sử dụng đất, biển, liên vùng, quốc phòng… dẫn đến khả năng xung đột khi triển khai quy hoạch. Chủ tịch HĐQT Công ty CP Tập đoàn Trường Thành Nguyễn Trung Kiên chia sẻ, NĐT ngại nhất là sự không ổn định, không rõ ràng và chậm khắc phục những điểm bất hợp lý, điểm trống trong cơ chế, chính sách của Nhà nước liên quan các dự án NLTT. Đồng thời còn phát sinh nguy cơ bị cắt giảm công suất phát; các thủ tục về đất đai còn rườm rà; những bất hợp lý trong việc áp dụng chính sách đối với các dự án điện gió trên biển. Việc quá tải lưới điện truyền tải cũng làm giảm khả năng cung cấp nguồn, giảm động lực của các NĐT... Chính những bất cập nêu trên đang phần nào cản trở nỗ lực thu hút đầu tư xã hội hóa vào phát triển hạ tầng năng lượng điện. 

Gỡ mọi rào cản, đẩy nhanh đầu tư phát triển năng lượng

Với nhu cầu phát triển điện năng lớn như hiện nay, đồng thời nhiều nhà đầu tư (NÐT) tư nhân, nước ngoài đã và đang tham gia các dự án phát triển nguồn và lưới điện nhưng còn gặp nhiều khó khăn, việc tháo gỡ các điểm nghẽn, vướng mắc rất cần thiết. Ðiều này đòi hỏi các cấp, các ngành, địa phương cần phối hợp chặt chẽ, đồng hành cùng Chính phủ, Bộ Công thương xây dựng cơ chế chính sách thống nhất, xuyên suốt, hấp dẫn nhằm tạo thuận lợi cho các NÐT yên tâm bỏ vốn vào lĩnh vực phát triển điện năng, bảo đảm hiệu quả kinh tế lẫn môi trường.

Tạo hành lang pháp lý thuận lợi

Theo Bộ Công thương, Nghị quyết 55-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đề ra các định hướng xóa bỏ những rào cản, tạo thuận lợi cho tất cả các thành phần kinh tế, nhất là khu vực tư nhân tham gia phát triển lĩnh vực năng lượng; xác định rất rõ chiến lược phát triển bền vững năng lượng quốc gia thời gian tới là tập trung phát triển các nguồn năng lượng đa dạng, phù hợp, đồng thời tiếp tục ưu tiên phát triển năng lượng tái tạo (NLTT). Các nghiên cứu đánh giá tiềm năng NLTT cho thấy, đến năm 2030, Việt Nam có khả năng phát triển khoảng 8.000 MW thủy điện nhỏ, 20.000 MW điện gió, 3.000 MW điện sinh khối, 35.000 MW điện mặt trời (ÐMT). Ðể thu hút các thành phần kinh tế có điều kiện tham gia phát triển lĩnh vực năng lượng ngày càng tích cực hơn, Bộ Công thương đã báo cáo Chính phủ xem xét, kiến nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nghị quyết giải thích và làm rõ một số quy định tại một số luật chuyên ngành nhằm tạo hành lang pháp lý rõ ràng. Hiện, Bộ Công thương đang tiến hành nghiên cứu, sửa đổi Luật Ðiện lực để có cơ sở tách bạch rõ ràng phạm vi đầu tư giữa Nhà nước và tư nhân trong các lĩnh vực năng lượng nhằm tháo gỡ nút thắt quan trọng trong hạ tầng năng lượng; đồng thời kiến nghị Quốc hội xem xét ban hành nghị quyết, cho phép ngành điện thực hiện thí điểm một số chính sách chưa có luật điều chỉnh, hoặc khác với quy định của luật hiện hành để hỗ trợ các chủ đầu tư dự án điện đẩy nhanh tiến độ các dự án; xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển ngành năng lượng, bảo đảm môi trường, thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng. Ðồng thời, tiếp tục nghiên cứu, đề xuất Chính phủ cơ chế, chính sách khuyến khích thu hút vốn đầu tư tư nhân phát triển nguồn điện NLTT giai đoạn tới như: Cơ chế mua bán điện trực tiếp, cơ chế đấu thầu lựa chọn NÐT.

Trong quá trình này, Chính phủ sẽ tiếp tục đẩy mạnh việc phát triển hạ tầng năng lượng bền vững, kết nối khu vực; nâng cao nội lực ngành công nghiệp chế tạo, dịch vụ phục vụ ngành năng lượng bằng cách hoàn thiện cơ chế, xây dựng cơ sở dữ liệu, hạ tầng truyền thông số; hệ thống giám sát, quản lý năng lượng tự động, báo cáo thống kê năng lượng quốc gia phục vụ công tác quản lý, điều hành hiệu quả ngành năng lượng. Chính phủ sẽ nghiên cứu, hoàn thiện, ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù trong việc triển khai thực hiện các dự án năng lượng quan trọng, đặc biệt là các dự án điện cấp bách trong quy hoạch phát triển điện lực; xây dựng các cơ chế chính sách để thu hút, huy động nguồn lực xã hội tham gia đầu tư các dự án hạ tầng năng lượng; tạo điều kiện để thị trường điện phát triển đúng đắn. Chính phủ cần sớm ban hành Chiến lược phát triển năng lượng, Chiến lược phát triển ngành điện quốc gia trên cơ sở Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị; tiếp tục chỉ đạo quyết liệt, ban hành các cơ chế chính sách như: ưu tiên bố trí nguồn vốn ODA, vốn vay nước ngoài, bảo lãnh Chính phủ cho các dự án điện trọng điểm; rà soát, hoàn thiện quy định bảo đảm đồng bộ và giảm bớt thủ tục trong công tác đầu tư xây dựng...

GS, TSKH Nguyễn Mại đề nghị, định hướng của Việt Nam là tiếp tục phát triển mạnh năng lượng sạch, nhưng cần đánh giá lại toàn diện những kết quả tích cực cũng như các vấn đề tồn tại để mở ra môi trường tối ưu cho NLTT trong thời gian tới, hạn chế hiện tượng "xin-cho", bảo đảm an ninh quốc gia. Vừa qua, có dự án tư nhân đã làm 17 km đường dây truyền tải điện chỉ chưa đến sáu tháng, do đó cần nghiên cứu để đưa cơ chế thí điểm này thành cơ chế, chính sách chung. Có như vậy mới thực hiện được Quy hoạch Ðiện VIII như Bộ Công thương đang trình Chính phủ. Các vấn đề này sẽ được giải quyết nếu chúng ta ưu tiên nghiên cứu, xây dựng và ban hành luật riêng về NLTT.

Ðể giải bài toán về vốn cho các dự án NLTT, theo Chuyên gia kinh tế trưởng Ngân hàng BIDV Cấn Văn Lực, cần nghiên cứu chính sách ưu tiên một phần nguồn vốn ngân sách nhất định dành cho phát triển NLTT trong một số lĩnh vực cụ thể như phát triển quỹ năng lượng bền vững, đầu tư hạ tầng cơ sở truyền tải điện, đào tạo kỹ thuật, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư cho người dân tại các vùng dự án. Tranh thủ nguồn vốn xã hội hóa vào lĩnh vực NLTT, đặc biệt xem xét thúc đẩy tốc độ hoàn thiện hạ tầng truyền tải điện đồng bộ quy hoạch phát triển các dự án NLTT; cho phép xã hội hóa một phần khâu truyền tải điện và phân phối trực tiếp. Tiếp tục tìm kiếm nguồn lực tài trợ, vốn ODA từ các tổ chức quốc tế như ADB, WB, IMF và các nhà tài trợ khác, các tổ chức phát triển NLTT quốc tế uy tín về cả vốn và trợ giúp kỹ thuật. Phát triển thị trường trái phiếu, quỹ đầu tư, trong đó có thị trường trái phiếu năng lượng sạch, trái phiếu xanh là loại hình đã được các định chế tài chính quốc tế lớn (WB, IFC, ADB...) thực hiện thành công trong thời gian qua…

Ủy viên Hội đồng khoa học thuộc Hiệp hội Năng lượng Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn kiến nghị các bộ, ngành cần rà soát các quy định pháp luật liên quan đầu tư, quy hoạch, xây dựng, quản lý đất đai, đấu thầu… để đề xuất sửa đổi những bất cập, chồng chéo giữa các luật với nhau; cần sớm có các hướng dẫn thực hiện các dự án đầu tư theo hình thức đối tác công - tư (PPP). Ðể các dự án điện độc lập quy mô lớn triển khai thuận lợi, cần xem xét sửa đổi Thông tư 56/2014/TT-BCT của Bộ Công thương để các điều khoản chia sẻ rủi ro hợp đồng mua bán điện; sớm nghiên cứu có cơ chế phí - giá khuyến khích, bảo đảm hoàn vốn và có lợi nhuận với các nguồn làm dự phòng linh hoạt cho điện gió, ÐMT.

Ðồng bộ giữa nguồn và lưới điện

Hiện nay, vấn đề đồng bộ giữa nguồn và lưới điện còn bất cập, cũng là nguyên nhân gây khó khăn cho thu hút đầu tư. Hệ thống lưới điện truyền tải (LÐTT) chủ yếu do doanh nghiệp nhà nước đầu tư, khi triển khai xây dựng gặp rất nhiều khó khăn... Luật Ðiện lực quy định về độc quyền nhà nước trong hoạt động truyền tải, trong khi đó, Luật Ðầu tư theo phương thức PPP có hiệu lực từ ngày 1-1-2021, cũng quy định cho phép đầu tư LÐTT nhưng vẫn loại trừ các trường hợp độc quyền theo quy định Luật Ðiện lực. Do đó, để tạo cơ sở pháp lý cho các NÐT tư nhân đầu tư LÐTT, Bộ Công thương đã kiến nghị Chính phủ xem xét sửa đổi Luật Ðiện lực. Nhiệm vụ này dự kiến được thực hiện trong năm 2021 - 2022.

Chủ trương của Bộ Chính trị cũng như Chính phủ không phải xóa bỏ hoàn toàn độc quyền nhà nước về truyền tải điện, mà cần tách bạch phạm vi nào cần độc quyền, phạm vi nào thực hiện được đầu tư tư nhân trên cơ sở bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quá trình đầu tư và quản lý vận hành đối với hệ thống truyền tải điện quốc gia đều phải tuân thủ theo các tiêu chuẩn, quy trình, quy định hết sức nghiêm ngặt và chặt chẽ để bảo đảm chất lượng, đồng bộ về thiết bị, ghép nối... và an toàn, ổn định, tin cậy trong quá trình quản lý, vận hành. Do đó, đối với hệ thống truyền tải điện quốc gia có tính chất xương sống và huyết mạch này cần phải độc quyền nhà nước trong cả lĩnh vực đầu tư và quản lý vận hành. Ðối với hệ thống truyền tải điện phục vụ đấu nối một/hoặc một cụm các nhà máy điện lên hệ thống điện quốc gia, về cơ bản lưới điện này chỉ mang tính cục bộ và có phạm vi ảnh hưởng không lớn khi có sự cố xảy ra, do đó, NÐT tư nhân có thể thực hiện đầu tư và quản lý vận hành. Cục trưởng Ðiện lực và NLTT (Bộ Công thương) Hoàng Tiến Dũng cho biết, Bộ Công thương đã báo cáo Thủ tướng Chính phủ về chủ trương khuyến khích nguồn lực từ các thành phần kinh tế cho đầu tư cơ sở hạ tầng truyền tải để đẩy nhanh tiến độ vào vận hành của các dự án lưới điện, nhất là tại các khu vực cần hoàn thành nhanh nhất có thể LÐTT để giải tỏa công suất nguồn NLTT. Về dài hạn, công tác quy hoạch, nhất là Quy hoạch điện VIII sẽ được tập trung nghiên cứu, thực hiện bài bản hơn.

Vừa qua, Phó Thủ tướng Trịnh Ðình Dũng đã có ý kiến chỉ đạo về việc thực hiện đầu tư LÐTT đấu nối, theo đó: trong khi Luật PPP chưa ban hành và có hiệu lực, Bộ Công thương chịu trách nhiệm hướng dẫn đầu tư LÐTT phục vụ đấu nối các nhà máy điện và cụm nhà máy điện vào hệ thống điện quốc gia, kịp thời giải quyết các vướng mắc phát sinh, không để xảy ra mất đồng bộ giữa đầu tư nguồn và lưới điện đấu nối. Do đó, thời gian tới, việc đề xuất tư nhân đầu tư LÐTT có thể áp dụng theo quy định của Luật PPP và xem xét theo từng trường hợp cụ thể chứ không áp dụng cho tất cả LÐTT, nhất là LÐTT quốc gia mang tính chất xương sống, huyết mạch. Về vấn đề này, Tổng Giám đốc Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia (EVNNPT) Phạm Lê Phú khẳng định, EVNNPT luôn hoan nghênh và sẵn sàng hợp tác, tạo điều kiện cho các NÐT trong việc đầu tư dự án LÐTT đấu nối hệ thống truyền tải điện quốc gia, miễn là các dự án này phải bảo đảm đồng bộ các yêu cầu quy định, thủ tục, kỹ thuật, chất lượng.

NGUỒN: TÁC GIẢ GIANG CHÂU, HÀ TUẤN TRUNG

Bài viết liên quan

EMIME THÔNG BÁO LỊCH NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN 2022

EMIME THÔNG BÁO LỊCH NGHỈ TẾT NGUYÊN ĐÁN 2022

Công ty cổ phần đầu tư Emime xin trân trọng thông báo lịch nghỉ tết Nguyên đán 2022 đến toàn bộ cán bộ nhân viên, quý nhà đầu tư, quý đối tác, quý khách hàng:
Chi tiết >
EMIME TỔ CHỨC THÀNH CÔNG BUỔI TIỆC TẤT NIÊN NĂM 2021

EMIME TỔ CHỨC THÀNH CÔNG BUỔI TIỆC TẤT NIÊN NĂM 2021

Hòa trong không khí nhộn nhịp của những ngày cuối năm, vào ngày 21/01/2022 Công ty Cổ phần Đầu tư Emime long trọng tổ chức buổi tiệc liên hoan tất niên năm 2021 với sự góp mặt của toàn thể các cán bộ nhân viên trông công ty để tổng…
Chi tiết >
NHÌN LẠI NĂM 2021 CỦA EMIME - KHÔNG HOÀN HẢO NHƯNG ĐẦY TỰ HÀO

NHÌN LẠI NĂM 2021 CỦA EMIME - KHÔNG HOÀN HẢO NHƯNG ĐẦY TỰ HÀO

Một năm 2021 đầy biến động, khó khăn, chúng ta đã nỗ lực và vượt qua một cách đầy tự hào. Nhưng chính khó khăn đó là phép thử để bộc lộ rõ hơn vai trò lãnh đạo sáng suốt, bản lĩnh và linh hoạt của HĐQT cùng Ban Giám…
Chi tiết >
EMIME KHẢO SÁT & HỢP TÁC ĐẦU TƯ VỚI DOANH NGHIỆP CHÈ TẠI LAI CHÂU

EMIME KHẢO SÁT & HỢP TÁC ĐẦU TƯ VỚI DOANH NGHIỆP CHÈ TẠI LAI CHÂU

Với nền tảng từ dự án phát triển Trà Shan tuyết cổ thụ của “Công ty cổ phần đầu tư và phát triển trà Tiên Thiên”. Emime tiếp tục khảo sát và cấp vốn đầu tư cho doanh nghiệp Chè - HTX Quyết Tâm tại thành phố Lai Châu.
Chi tiết >
CÔNG TY CPĐT VÀ PT TRÀ TIÊN THIÊN KHAI TRƯƠNG VĂN PHÒNG MỚI.

CÔNG TY CPĐT VÀ PT TRÀ TIÊN THIÊN KHAI TRƯƠNG VĂN PHÒNG MỚI.

Buổi lễ khai trương là dấu mốc khẳng định những bước đi đúng đắn trong định hướng gìn giữ, bảo tồn và phát triển những giá trị văn hóa trà Việt, đặc biệt là các sản phẩm trà Shan tuyết cổ thụ Việt Nam để Trà Việt vươn tầm ra…
Chi tiết >